Connect with us

Tây Ninh Online

Cập nhật danh sách các tuyến xe buýt đi Tây Ninh từ TP HCM

Published

on

Xe buýt đi Tây Ninh từ TP HCM

Cập nhật danh sách các tuyến xe buýt đi Tây Ninh từ TP HCM

Một vài tuyến xe bus đi Tây Ninh:

Từ TP.HCM, bạn bắt xe bus số 703 (tuyến Bến Thành – Mộc Bài và ngược lại) để đi Mộc Bài. Xe dừng tại bến xe Mộc Bài. Tại đây du khách tiếp tục bắt xe bus số 5 để đi thành phố Tây Ninh. Xe sẽ dừng tại bến xe Tây Ninh.

Xe bus số 703: Bến Thành – Mộc Bài, tần suất hoạt động 40 chuyến một ngày (riêng thứ bảy và chủ nhật là 48 chuyến một ngày). Thời gian di chuyến khoảng 150 phút. Thời gian hoạt động: Bến Thành: 6h-16h30, Mộc Bài: 8h35-19h30.

Xe bus số 5: Mộc Bài –-Tây Ninh. Thời gian hoạt động: 6h45 -18h00.

Từ TP.HCM du khách bắt xe bus số 13; 94 hoặc 74 đi bến xe Củ Chi. Từ bến xe Củ Chi bắt tiếp xe bus số 603 chuyện tuyến Bến xe Củ Chi – Tây Ninh và ngược lại. Xe sẽ dừng tại bến xe Tây Ninh.

Xe buýt đi Tây Ninh từ TP HCM

Xe buýt đi Tây Ninh từ TP HCM

Một số tuyến xe bus đi bến xe Củ Chi:

Xe bus số 13: Bến Thành – Bến xe Củ Chi và ngược lại. Số chuyến: 146 chuyến/ngày. Thời gian chuyến: 75 phút. Giãn cách: 10-20 phút/chuyến. Thời gian hoạt động: 4h30-19h30.

Xe bus số 94: Chợ Lớn – Bến xe Củ Chi và ngược lại. Số chuyến: 205 (trong đó có 15 chuyến phục vụ người khuyết tật) chuyến/ngày. Thời gian chuyến: 75 phút. Giãn cách: 8-15 phút/chuyến. Thời gian hoạt động: BX Chợ Lớn: 4h45-20h30; BX Củ Chi: 4h00-19h00.

Xe bus số 74: Bến xe An Sương – Bến xe Củ Chi và ngược lại. Số chuyến: 310 chuyến/ngày. Thời gian chuyến: 45 phút/chuyến. Thời gian hoạt động: Bến xe An Sương: 4h40-20h30; Bến xe Củ Chi: 3h40-19h20. Thời gian giãn cách: 4-15 phút/chuyến.

Các tuyến xe buýt trong địa bàn Tây Ninh

STT Tên tuyến Mô tả
1 Gò Dầu – Củ ChiCự ly tuyến: 27,7Km. Lượt đi: Bến xe Gò Dầu- Quốc Lộ 22 – Bến xe Trảng Bàng- Quốc lộ 22- Bến xe Củ Chi.
Chuyến đầu tiên xuất bến: 04 giờ 00 phút. Lượt về: Bến xe Củ Chi- Quốc Lộ 22 – Bến xe Trảng Bàng- Quốc lộ 22- Bến xe Gò Dầu.
Chuyến cuối cùng xuất bến: 19 giờ 00 phút. Giá vé:
Thời gian giãn cách giữa 02 chuyến xe:
– Hành khách đi lại từ 1/2 cự ly tuyến trở xuống:
+ Cao điểm:06 phút. Giá vé 8.000đồng/ Hành khách /lượt
– Hành khách đi lại trên 1/2 cự ly đến suốt tuyến:
+ Thấp điểm: 10 phút. Giá vé 12.000đồng/ Hành khách /lượt.
 2 Truông Mít- Bến xe Củ Chi:Cự ly tuyến: 54 Km. Lượt đi: Cây xăng Hùng Diệp (xã Truông Mít, huyện Dương Minh Châu, Tây Ninh)- Đường tỉnh 784- Đường tỉnh 782- Đường tỉnh 787 – Ngã 3 Chà Rầy- ranh giới tỉnh Tây Ninh- Hương lộ 2- Tỉnh lộ 7- Quốc lộ 22- Bến xe Củ Chi.·  Lượt về: Bến xe Củ Chi- Quốc lộ 22- Tỉnh lộ 7-Hương lộ 2- ranh giới tỉnh Tây Ninh- Ngã 3 Chà Rầy- Đường tỉnh 787- Đường tỉnh 782- Đường tỉnh 784- Cây xăng Hùng Diệp (xã Truông Mít, huyện Dương Minh Châu, Tây Ninh)
* Chuyến đầu tiên xuất bến:
– Đầu Truông Mít: 05giờ 15 phút.
– Đầu Bến xe Củ Chi: 06 giờ 00 phút.
* Chuyến cuối cùng xuất bến:
– Đầu Truông Mít: 16giờ 45 phút.
– Đầu Bến xe Củ Chi: 17 giờ 00 phút.
*Thời gian giãn cách giữa 02 chuyến xe:
+ Cao điểm: 20 phút.
+ Thấp điêm: 30 phút.
3 Mộc Bài – Gò Vấp – Bến ThànhCự ly tuyến: 79 Km. Lượt đi: Mộc Bài- Quốc Lộ 22- Gò Dầu- Quốc lộ 22- Lý Thường Kiệt- Tô Ký- Quang Trung- Nguyễn Kiệm- Phan Đình Phùng- Hai Bà Trưng- Tôn Đức Thắng- Hàm Nghi- Bến Thành.Lượt về: Bến Thành- Hàm Nghi- Tôn Đức Thắng- Hai Bà Trưng – Phan Đình Phùng- Nguyễn Kiệm- Nguyễn Thái Sơn- Phạm Ngũ Lão- Quang Trung- tô Ký- Lý Thường Kiệt- Quốc lộ 22- Gò Dầu- Quốc lộ 22- Mộc Bài.
Chuyến đầu tiên xuất bến:
– Đầu Mộc Bài: 07 giờ 20 phút.
– Đầu Bến Thành: 07 giờ 40 phút.
Chuyến cuối cùng xuất bến:
– Đầu Mộc Bài: 17 giờ 40 phút.
– Đầu Bến Thành: 17 giờ 40 phút.
Thời gian giãn cách giữa 02 chuyến xe:
+ Cao điểm:
+ Thấp điểm:
 4 Tuyến Bến xe Tây Ninh- Khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài:Cự ly tuyến: 35 Km. Lượt đi: Bến xe Tây Ninh- đường Trưng Nữ Vương- đường 786- ngã tư Hữu Nghị- đường Xuyên Á- Khu kinh tế Cửa Khẩu Mộc Bài.Lượt về: Ngược lại của lượt đi.
Chuyến đầu tiên xuất bến:
– Tại Bến xe Tây Ninh: 05 giờ 45 phút.
– Tại Bến xe Mộc Bài: 07 giờ 00 phút.
Thời gian giãn cách giữa 02 chuyến xe:
+ Cao điểm:  30 phút
+ Thấp điểm: 45 phút
 5 Tuyến Bến xe Tây Ninh- Bến xe Gò DầuCự ly tuyến: 40 Km. Lượt đi: Bến xe Tây Ninh- đường Trưng Nữ Vương- đường 30/4- đường cách mạng tháng tám- đường Phạm Hùng (Ca Bảo Đạo)- đường 797- chợ Long Hoa- đường 797- ngã ba Giang Tân- Quốc lộ 22B- Bến xe Gò Dầu.Lượt về: Ngược lại của lượt đi.
Chuyến đầu tiên xuất bến:
– Tại Bến xe Tây Ninh: 04 giờ 50 phút.
– Tại Bến xe Gò Dầu: 05 giờ 00 phút.
Chuyến cuối cùng xuất bến:
– Tại Bến xe Tây Ninh: 18 giờ 10 phút
– Tại Bến xe Gò Dầu: 19 giờ 00 phút.
Thời gian giãn cách giữa 02 chuyến xe:
+ Cao điểm:  10, 15 phút
+ Thấp điểm: 20 phút
Chuyến đầu tiên xuất bến:
– Đầu Tây Ninh: 08 giờ 30 phút.
– Đầu TP.HCM: 06 giờ 00 phút.
Chuyến cuối cùng xuất bến:
– Đầu Tây Ninh: 19 giờ 30 phút.
– Đầu TP.HCM: 16 giờ 30 phút.
Thời gian giãn cách giữa 02 chuyến xe:
+ Cao điểm:
+ Thấp điêm:
Chuyến đầu tiên xuất bến:  05 giờ 30 phút (tại đầu 02 bến xe).
Chuyến cuối cùng xuất bến: 17 giờ 00 phút (đầu 02 bến xe).
Thời gian giãn cách giữa 02 chuyến xe:
+ Cao điểm: 20 phút.
+ Thấp điểm: 30 phút.
8 Tuyến: Bến xe Tây Ninh đến cửa khẩu Xa Mát (huyện Tân Biên)Cự ly tuyến: 48 Km. Lượt đi: Bến xe Tây Ninh – đường Trưng Nữ Vương – đường Võ Văn Truyện – Ngã tư Công an Thị Xã – đường Tua Hai – quốc lộ 22B – cửa khẩu Xa Mát (huyện Tân Biên).Lượt về: Ngược lại của lượt đi.
Chuyến đầu tiên xuất bến: 05 giờ 30 phút
Chuyến cuối cùng xuất bến: 17 giờ 00 phút
Thời gian giãn cách giữa 02 chuyến xe:
+ Cao điểm: 20 phút.
+ Thấp điểm: 25 phút.
9 Tuyến: Truông Mít- cầu K13- DMCC Cự ly tuyến: 48 Km. * Lộ trình:+ Lượt đi: Bố Heo – Đường tỉnh 787 – đường tỉnh 782- Đường tỉnh 784- Bến Cây xăng Nam Việt (Ngã 3 cầu K13- Tây Ninh).
Thời gian xuất bến:– Tại Bố heo: + Lượt về: Bến Cây xăng Nam Việt (Ngã 3 cầu K13- Tây Ninh)- Đường 784- Đường tỉnh 782- Đường tỉnh 787- Bố heo.
+ Chuyến đầu tiên: 05 giờ 30 phút
+ Chuyến cuối cùng: 19 giờ 00
– Tại Dương Minh Châu (cầu K13):
+ Chuyến đầu tiên: 04 giờ 00 phút
+ Chuyến cuối cùng: 17 giờ 00
10 Tuyến:  Bến xe Tây Ninh đến Kà Tum (huyện Tân Châu, Tây Ninh)– Cự ly tuyến: 55Km * Lộ trình:– Lộ trình:
+ Lượt đi: Bến xe Tây Ninh – Đường Trưng Nữ Vương – Đường 30/4 – Ngã 3 Mít Một- Đường Lạc Long Quân – Đường Phạm Văn Đồng – Đường Hùng Vương – Đường Châu Văn Liêm – Đuờng Lý Thường Kiệt – Đường CMT8 – Đường Điện Biên Phủ (ĐT 799) – Đường Bời Lời (ĐT 790) – Ngã ba Lâm Vồ – Đường 785 – Đồng Pan – Kà Tum.
+ Lượt về: Ngược lại của lượt đi.
– Chuyến đầu tiên xuất bến
+ Tại Bến xe Tây Ninh:  04 giờ 30
+ Tại Kà Tum:  04 giờ 30
– Chuyến cuối cùng xuất bến
+ Tại Bến xe Tây Ninh:  18 giờ 00
+ Tại Kà Tum:  18 giờ 00
– Thời gian giản cách giữa hai chuyến: Cao điểm: 15 phút, thấp điểm: 20 phút.
11 Tuyến:  Hòa Thành- xã Biên Giới (huyện Châu Thành, Tây Ninh)– Cự ly tuyến: 40Km – Lộ trình:+ Lượt đi: Bến xe Hòa Thành- Cửa số 5 chợ Long Hoa- Cửa số 1 chợ Long Hoa- Đường Hùng Vương- Đường Phạm Văn Đồng- Ngã Tư Ao Hồ- Đường Lạc Long Quân- Đường 30/4- Đường Trưng Nữ Vương- Đường Trương Quyền- Đường tỉnh 781- Đường liên xã Biên Giới (huyện Châu Thành)- Chợ xã Biên Giới- Ngã tư Đồn Biên Phòng 839.
+ Lượt về: Ngược lại của lượt đi.
– Chuyến đầu tiên xuất bến
+ Tại Bến xe Hòa Thành:  05 giờ 30
+ Tại Ngã tư đồn 839:  05 giờ 30
– Chuyến cuối cùng xuất bến
+ Tại Bến xe Hòa Thành:  16 giờ 30
+ Tại Ngã tư đồn 839:  16 giờ 30
– Thời gian giản cách giữa hai chuyến: 30 phút.
5/5 - (1 bình chọn)
Continue Reading
Click to comment

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Tây Ninh Online

Bảng giá vé các dịch vụ tại KDL Núi Bà Đen Tây Ninh

Published

on

Bảng giá vé các dịch vụ tại KDL Núi Bà Đen Tây Ninh

Bảng giá vé các dịch vụ tại KDL Núi Bà Đen Tây Ninh

Bảng giá vé các dịch vụ tại KDL Núi Bà Đen Tây Ninh

Bảng giá vé các dịch vụ tại KDL Núi Bà Đen Tây Ninh

Bảng giá vé cáp treo và xe trượt ống tại Núi Bà Đen

– Người lớn / Trẻ em cao trên 1m4:

+ Khứ hồi: 200.000 đồng
+ Một chiều: 110.000 đồng

– Trẻ em cao từ 1m – 1m4:

+ Khứ hồi: 100.000 đồng
+ Một chiều: 60.000 đồng

– Trẻ em cao dưới 1m:

+ Miễn phí vé

5/5 - (1 bình chọn)
Continue Reading

Tây Ninh Online

Sông Vàm Cỏ Đông: Cá đã quay trở lại với bà con Tây Ninh

Published

on

Ngư dân đánh bắt thủy sản trên sông Vàm Cỏ Đông

Thông thường khoảng 6-7 giờ sáng chỗ bà Thanh đã có cá để bán, mỗi ngày có khoảng 50 – 60kg cá ngon, cá mòi có khi vài trăm ký.

Sông Vàm Cỏ Đông bắt nguồn từ biên giới Việt Nam – Campuchia, dài 270km, trong đó đoạn chảy qua tỉnh Tây Ninh khoảng 151km. Không chỉ là đường giao thông thủy quan trọng, dòng sông còn cung cấp nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp như tưới tiêu, nuôi trồng thủy sản và tạo điều kiện cho một bộ phận người dân mưu sinh bằng nghề đánh bắt cá.

Để phát triển kinh tế – xã hội, việc đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa là tất yếu. Tuy nhiên, quá trình đó đã tác động không nhỏ đến môi trường tự nhiên. Trong đó, chất lượng môi trường nước mặt chịu tác động nhiều nhất, do hoạt động của các khu, cụm công nghiệp, hoạt động sản xuất nông nghiệp, tập quán, thói quen sinh hoạt của người dân xả nước thải ra các kênh, rạch, sông ngòi, khiến chất lượng nguồn nước sông Vàm Cỏ Đông ngày càng suy giảm và ô nhiễm. Điều này không chỉ gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người mà môi trường sống của sinh vật cũng bị tác động.

MỘT THỜI TAN TÁC

Theo Sở Tài nguyên và Môi trường (TN&MT), ngoài việc bị tác động tiêu cực từ các hoạt động khai thác cát, sông Vàm Cỏ Đông còn là nơi tiếp nhận nước thải từ các khu công nghiệp Trảng Bàng, Linh Trung III, Thành Thành Công và 43 nhà máy chế biến khoai mì, 11 nhà máy chế biến cao su, 2 nhà máy chế biến mía đường, 11 trung tâm y tế, bệnh viện và trên 30 cơ sở sản xuất kinh doanh khác trong lưu vực dòng sông với tổng lưu lượng lên đến 116.000 – 118.000m3/ngày đêm. Ngoài ra, mỗi ngày, sông Vàm Cỏ Đông còn tiếp nhận nước thải từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, nuôi thủy sản và trên 15.000m3 nước thải đô thị của các thị trấn và cộng đồng dân cư đang sinh sống ở ven sông.

Tình trạng ô nhiễm của sông Vàm Cỏ Đông không còn xa lạ với người dân trên địa bàn tỉnh. Ấp Bến Kéo, xã Long Thành Nam (huyện Hòa Thành) trước đây là nơi tập trung nhiều hộ dân nuôi cá lồng bè ven sông Vàm, nhưng do nước sông ô nhiễm, khiến cá chết dẫn đến việc bị thua lỗ nên nhiều hộ đã giảm quy mô sản xuất, thậm chí phải bỏ nghề. Chị Nga, ngụ ấp Bến Kéo cho biết, trước đây gia đình chị nuôi gần chục bè, gồm các loại cá lóc bông, thác lác cườm, cá tra… số lượng mỗi bè khoảng 7.000 – 8.000 con. Vốn đầu tư nuôi cá bè rất lớn, vừa tiền vốn của gia đình, vừa vay mượn thêm từ ngân hàng, mỗi đợt đầu tư chi phí có khi lên đến cả tỷ đồng, nhưng do sông bị ô nhiễm, cá chết trắng. Lo ngại tình hình ô nhiễm nên hiện chị Nga chỉ còn nuôi 3 – 4 bè cá.

Anh Nguyễn Quốc Bảo là một ngư dân ở ấp Cẩm Bình, xã Cẩm Giang (huyện Gò Dầu), quê gốc ở Đồng Tháp. Từ nhỏ, anh theo cha đến Tây Ninh sinh sống, lập nghiệp, đến nay đã hơn 20 năm. Anh Bảo cho biết: “Sông Vàm Cỏ trước đây có nhiều loại cá “ngon” lắm như cá phèn, cá xác, cá lăng, cá kết… mỗi đợt đánh bắt cũng được khoảng 20 ký cá ngon và vài chục ký cá vụn, nhưng bây giờ thì không còn nhiều như vậy, các loại cá ngon đánh bắt không còn được như trước mà chủ yếu là cá vụn”. Theo anh Bảo và một số người dân cũng nuôi cá lồng bè tại Cẩm Giang, một phần là do nước sông hay bị ô nhiễm bởi nước xả thải của các nhà máy. Anh Bảo cùng vợ và 2 đứa con sinh sống trên thuyền, nhưng mỗi khi nước sông bị ô nhiễm, phải chuyển lên bờ sống tạm vì hôi không chịu nổi.

Tại ấp Nam Bến Sỏi, xã Thành Long (huyện Châu Thành) có một khu vực tập trung các hộ dân làm nghề đánh bắt cá. Thông thường, ngư dân phải đi rất xa để đánh bắt, có khi phải ngược lên tới đầu nguồn hay xuôi xuống Bến Kéo, Gò Dầu. Chị Trần Thị Hồng cho biết, khúc sông bị ô nhiễm là nguồn cá bị đẩy đi, phải mấy tháng sau cá mới về lại nhưng rất ít. Cũng vì lẽ này, dân làm nghề cá tại địa phương phải đi xa hơn để đánh bắt, thông thường khoảng 1 giờ trưa mọi người ở đây khởi hành, đến 8 – 9 giờ sáng hôm sau mới trở về.

CÁ ĐÃ QUAY TRỞ LẠI

Vài năm gần đây, chất lượng nước lưu vực sông Vàm Cỏ Đông đã được cải thiện. Hàm lượng oxy hòa tan trong nước (DO) dao động từ 0,3 – 3,7mg/lít (giai đoạn 2006 – 2010) đã tăng lên 3 – 4,8mg/lít (giai đoạn 2011 – 2015); nhu cầu oxy hóa học (COD) dao động từ 10 – 35mg/lít (giai đoạn 2006 – 2010) đã giảm xuống còn 10 – 17mg/lít (giai đoạn 2011 – 2015). Các thông số về kim loại nặng và hóa chất bảo vệ thực vật đều không phát hiện thấy trong nước của sông Vàm Cỏ Đông. Do đó, tình trạng cá tự nhiên bị chết đã giảm dần, một số loài thủy sản có giá trị cao như tôm càng xanh, cá lăng… đã phát triển trở lại.

Dù chất lượng nước lưu vực sông Vàm Cỏ Đông đã được cải thiện, nhưng chưa đạt mục tiêu đề ra, còn xảy ra tình trạng cá nuôi bè và cá tự nhiên chết ở một số nơi, lục bình phát triển nhiều gây ảnh hưởng giao thông đường thủy và đời sống sinh hoạt của các hộ dân sinh sống ven sông.

Nuôi cá thác lác cườm ven sông Vàm Cỏ Đông tại xã Long Thành Nam (huyện Hòa Thành)

Nuôi cá thác lác cườm ven sông Vàm Cỏ Đông tại xã Long Thành Nam (huyện Hòa Thành)

Theo Sở TN&MT, nguyên nhân của tình trạng này một phần do sự tác động của biến đổi khí hậu dẫn đến các hiện tượng thời tiết cực đoan làm gia tăng phân hủy các chất hữu cơ, cùng với lục bình phát triển ở lưu vực sông Vàm làm giảm hàm lượng oxy hòa tan trong nước, nhất là vào mùa khô. Một nguyên nhân khác là do các nguồn thải từ đô thị, khu dân cư tập trung, từ sản xuất nông nghiệp, nuôi thủy sản, thủy cầm xả vào lưu vực sông chưa được kiểm soát và xử lý triệt để. Một số khu công nghiệp, nhà máy, cơ sở sản xuất, kinh doanh ngoài khu công nghiệp có lúc còn xảy ra sự cố, vận hành hệ thống xử lý không đúng quy trình nên xả nước thải chưa đạt tiêu chuẩn ra môi trường.

Năm 2016, ngành TN&MT tỉnh đã thực hiện chuyên đề “Một số giải pháp cấp bách bảo vệ nguồn nước hệ thống sông Đồng Nai trên địa bàn tỉnh Tây Ninh”. Kết quả nghiên cứu của chuyên đề cho thấy, sau khi có sự cải thiện rõ nét trong chất lượng nguồn nước sông giai đoạn 2011-2014, từ năm 2015 lại phát hiện thấy xu hướng chất lượng nguồn nước sông Vàm Cỏ Đông và sông Sài Gòn bị ô nhiễm và suy giảm trở lại. Cụ thể trong năm 2016 phát hiện thấy các điểm ô nhiễm cục bộ trên sông Vàm Cỏ Đông và sông Sài Gòn, đồng thời trong tháng 6.2016 xảy ra hiện tượng cá chết hàng loạt trên sông Vàm. Đây là điều đáng báo động và phải có các giải pháp thiết thực nhằm khắc phục ô nhiễm và phục hồi, duy trì ổn định chất lượng nước sông.

Hiện nay, ngành TN&MT chưa có kết quả quan trắc của năm 2017 nên chưa có cơ sở để đánh giá chất lượng nước sông. Tuy nhiên, theo một số người dân sống ở khu vực ven sông như xã Thành Long, Thanh Điền (Châu Thành); xã Long Thành Nam (Hòa Thành); xã Cẩm Giang (Gò Dầu)… có những điểm thường xuyên chịu tác động nặng nề của việc ô nhiễm trên sông như khu vực cầu Bến Sỏi (xã Thành Long), ấp Bến Kéo (xã Long Thành Nam).

Theo ý kiến đánh giá của người dân, tình hình ô nhiễm nước sông Vàm Cỏ Đông từ đầu năm 2017 đến nay được cải thiện hơn các năm trước. Một ngư dân ở ấp Nam Bến Sỏi, xã Thành Long cho biết: “Tình hình năm nay có đỡ hơn, vì nước thải ít hơn, tuy sông có bị ô nhiễm nhưng không nặng bằng những năm trước.

Bà Nguyễn Thị Thanh, tiểu thương bán cá tại chân cầu Bến Sỏi, là người gắn bó lâu năm với bà con làm nghề cá. Bà Thanh cho biết, mỗi khi ngư dân đánh bắt về sẽ có thương lái đến tận nơi thu mua rồi bán lại cho bà. Những loại cá ngon bà giữ lại để bán, cá dở bán cho các hộ nuôi cá thác lác cườm ở ven sông để làm thức ăn cho cá. Bà cho biết, khoảng một năm nay, tình hình nước sông tốt hơn. Bà Thanh chia sẻ: “Lúc này cũng có cá rồi, nếu nguồn nước không bị ô nhiễm thì làm cá đỡ lắm. Hiện nay, cũng có nhiều loại cá hơn so với trước đây, cá trắng vẫn là chủ yếu nhưng có thêm cá linh, cá lăng, cá chạch, cá chốt, cá kèo…”. Thông thường khoảng 6-7 giờ sáng chỗ bà Thanh đã có cá để bán, mỗi ngày có khoảng 50 – 60kg cá ngon, cá mòi có khi vài trăm ký.

Chị Võ Ngọc Nga – ngụ ấp Bến Kéo, xã Long Thành Nam cũng vui mừng cho biết, năm nay tình hình nước sông có đỡ hơn, bớt nước xả thải, nếu như nguồn nước tốt lên, có thể gia đình chị vẫn tiếp tục bám nghề. Hầu hết người dân đều bày tỏ nguyện vọng mong muốn chất lượng nguồn nước sông Vàm Cỏ Đông được cải thiện để từ đó, đời sống sinh hoạt và kinh tế của họ có thể ổn định hơn, có điều kiện để phát triển kinh tế.

TẬP TRUNG BẢO VỆ NGUỒN NƯỚC

Theo Sở TN&MT, để hạn chế những tác động tiêu cực đến nguồn nước sông Vàm Cỏ Đông, và thực hiện Quyết định số 187 của Thủ tướng Chính phủ về bảo vệ môi trường lưu vực hệ thống sông Đồng Nai đến năm 2020, bảo vệ nguồn nước đạt tiêu chuẩn loại A để phục vụ cấp nước sinh hoạt, UBND tỉnh đã ban hành kế hoạch thực hiện với mục tiêu: từng bước ngăn ngừa mức độ gia tăng ô nhiễm nguồn nước sông Vàm Cỏ Đông; phối hợp với các tỉnh, thành phố trong lưu vực thực hiện cân bằng nguồn nước nhằm phục vụ an toàn cho việc cấp nước sinh hoạt, tưới tiêu nông nghiệp, các nhu cầu phát triển KT-XH bền vững và giữ gìn cảnh quan thiên nhiên của sông Vàm Cỏ Đông, hồ Dầu Tiếng; khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo đảm cân bằng sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học.

Trong thời gian tới, ngành sẽ tập trung thực hiện các giải pháp như tuyên truyền giáo dục pháp luật nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức và cộng đồng dân cư về bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ nguồn nước nói riêng.

Vận động các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống, làm việc, sản xuất, chăn nuôi trên các lưu vực sông, hồ Dầu Tiếng thường xuyên giám sát, phát hiện các nguồn xả nước thải gây ô nhiễm nguồn nước, thông báo đến Sở TN&MT để có biện pháp ngăn chặn, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm về bảo vệ môi trường: và có cơ chế khen thưởng kịp thời đối với các tổ chức, cá nhân có thành tích trong bảo vệ môi trường.

Tiếp tục kiểm tra, đánh giá, phân loại các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, thường xuyên phối hợp với các ngành, các cấp và Cảnh sát Phòng, chống tội phạm về môi trường tổ chức thanh tra, kiểm tra định kỳ, đột xuất và chuyên đề để sớm phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về xả nước thải gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước thuộc lưu vực sông Vàm Cỏ Đông, sông Sài Gòn và hồ Dầu Tiếng.

Kiểm soát và xây dựng hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung của thành phố Tây Ninh và một số thị trấn đông dân cư xả nước thải ra sông. Tích cực hợp tác, phối hợp với một số tỉnh giáp biên giới của Campuchia trong việc bảo vệ nguồn nước lưu vực sông Vàm Cỏ Đông…

Rate this post
Continue Reading

Tây Ninh Online

Xa quê, Nhớ hoài tiếng chim đa đa Tây Ninh

Published

on

Hai bên xã Tân Thạnh ngày trước (thị trấn Tân Châu ngày nay) còn rất nhiều rừng chồi, xen với rừng chồi là những cụm le già trải dọc theo bờ giao thông hào từ đầu xã tới cuối xã. Đất rẫy thì còn vô số gò mối và hố bom, nên nơi đây rất thích hợp cho bao thứ như chồn, thỏ, chim chóc, nhất là cút, đa đa sinh sống và trú ngụ.

Chim đa đa đậu nhánh đa
Chồng gần không lấy em lấy chồng xa
Lỡ mai cha yếu mẹ già
Chén cơm đôi đũa bộ kỷ trà ai dâng…!

Cứ mỗi lần chiều xuống, nơi những cánh rừng thâm u ấy, nơi những đám đất rẫy vắng vẻ ấy lại vang vọng lên tiếng chim đa đa kêu “dắt bà xã tà tà…” nghe nó âm ảo làm sao. Tiếng chim chiều lẻ bạn sau một ngày đi kiếm ăn đã bao lần gây ám ảnh lấy tâm hồn tuổi thơ chúng tôi trong những chuỗi ngày xưa xa ấy.

Tiếng đa đa kêu rất khác lạ và không giống bất cứ loại chim nào. Có người vui tính thì nghe là “dắt bà xã tà tà…”, có người thích cổ tích thì lại nghe “bát cát trả cho cha”. Và thế là chim đa đa cũng có một sự tích. Tôi nghe nội tôi kể lại rằng: “Xưa có một cậu bé mồ côi mẹ, sống với cha. Cha đi bước nữa, cậu bé bị dì ghẻ hành hạ và đối xử tệ bạc.

Nhưng cha cậu nghe lời vợ, không hề biết con mình chịu nhiều đau khổ. Một lần cậu bé bị dì ghẻ bắt đi chăn vịt, chiều về không cho ăn uống đàng hoàng mà lại cho một chén cát, rồi phủ lớp cơm lên mặt bắt ăn. Cậu bé ấm ức ngồi khóc.

Cha đi làm rừng về mệt thấy vậy bực bội, lại thêm lời xúc xiểm của dì ghẻ, nên người cha mới đánh cậu ta. Ai ngờ trúng vào chỗ hiểm, cậu ta chết đi, chén cơm đổ văng ra, người cha hiểu ra cớ sự, rất hối hận, bèn đuổi người dì ghẻ bạc ác đi. Mấy ngày sau, người cha ra mộ con thì thấy một con chim lạ từ dưới mộ bay lên đậu trên một nhánh cây và kêu “bát cơm cát trả cho cha”. Người cha đoán biết là oan hồn của con mình. Đứa con chịu nhiều đau khổ…”. Nội tôi giờ đã mất nhưng chuyện xưa thì vẫn còn mãi trong lòng tôi.

Hồi ấy, trong xóm tôi còn khó khăn lắm, mấy người trai tráng khỏe mạnh thì lo việc rừng rẫy, những người lớn tuổi thì làm bẫy chồn, bẫy thỏ hoặc bẫy chim chóc để kiếm thêm cái ăn cho gia đình. Bắt chước họ, bọn trẻ chúng tôi cũng tìm cách đi bẫy đa đa. Đa đa ngoài kêu hay, thịt cũng nhiều lại rất ngon. Đi bẫy đa đa thú vị không gì bằng.

Nhưng muốn vậy phải tìm và thuần một con đa đa mồi trước cái đã. Chọn đa đa bổi để thuần thì phải chọn con trống, vì chỉ có đa đa trống mới gáy, còn đa đa mái thì không gáy. Tìm con trống lông xung quanh cổ và ngực màu đem thẫm, nổi nhiều cườm trắng, thân dài, đầu nhỏ thuôn, hai cánh hơi xệ, đuôi hơi cụp, chân màu vàng đậm, cựa dài, quan trọng là tiếng kêu phải dứt và gọn.

Chim đa đa bổi thường rất nhát, phải cho ở trong cái lồng tương tự lồng nuôi cút mồi, lấy áo lồng trùm kín lại, chỉ để hở nơi hai cửa chỗ chim thò đầu ra ăn thức ăn và uống nước. Lồng phải treo cao chừng mét rưỡi đến hai mét, nơi yên tĩnh, sạch sẽ mát mẻ… để chim quen người từ từ.

Nuôi một con đa đa bổi để thành mồi đôi khi mất cả năm trời và phải chăm sóc kỹ càng mới được. Thường thì thuần sau tám đến mười tháng thì chim bắt đầu kêu “tắc…đa đa….tốc…khò khò…tốc khò khò”. Nếu chim lên mồi người nuôi phải theo dõi coi chim này thuộc mồi mùa hay mồi suốt. Mồi mùa kêu vào khoảng tháng ba âm lịch cho đến hết tháng bảy tháng tám, chim rừng sao thì nó vậy. Mồi suốt thì kêu sớm hơn chim rừng, khoảng tháng hai đã kêu cho đến hết tháng chín, chim thay lông thì không kêu nữa và cũng không đem đi bẫy nữa.

Dân thuần chim đa đa rất tin dị đoan và mánh khóe. Con đa đa mà đến thời kỳ sung mãn thì sau lông đuôi dưới hậu môn hay có một chòm lông ửng đỏ hoặc trắng rất đẹp. Người mê tín nói đa đa mà trổ lông đỏ nuôi nó sẽ bị cháy nhà, còn trổ trắng thì vợ lấy trai! Kỳ thực, đó chỉ là cái mánh để kêu chủ nuôi bán cho mình mà thôi.

Nuôi được đa đa mồi rồi bắt đầu lo làm bẫy. Bẫy đa đa thường có ba loại là bẫy lủi, bẫy thòng lọng và bẫy giò. Bẫy giò thì dễ, tương tự bẫy giò của gà rừng, nhưng dân bẫy đa đa thường thích bẫy lưới lủi và bẫy thòng lọng, vì hai loại này dễ dính hơn. Bẫy thòng lọng phải chọn một cây thép 4 li, uốn thành hình chữ nhật, cạnh dài khoảng 30cm, cạnh ngắn khoảng 25cm. Khung này có hai chân để cắm xuống đất, bên trong khung treo ba cái thòng lọng tròn dễ rút để bẫy.

Loại bẫy này nhạy và chim ít phát giác, nhưng thất bại là nếu bị thòng lọng siết, chim giẫy mạnh thì dễ bị thương và chết. Nên xóm tôi xưa đa phần hay dùng bẫy lưới lủi. Bẫy lưới lủi y chang cái bẫy chim cút nhưng phải to và chắc chắn hơn, vì đa đa to và rất mạnh. Mua dây dù về đan nhuộm thành túi lưới, làm khoen rút hai đầu túi. Hai đầu lưới được mắc vào một vành cung thép dẻo, dây cung phải dài khoảng 40cm. Khi bẫy cắm cung xuống đất, trùm lưới lên cung, chim chạy qua sẽ bị lưới túm gọn.

Chim đa đa kêu theo mùa từ cuối xuân cho đến hết thu. Vì vậy, đi bẫy cũng phải theo mùa này mới được. Khuya dậy sớm nấu cơm ăn rồi giở cơm và nước uống mang theo cho cả ngày. Bắt đầu cuộc hành trình lang thang vào rừng, vào trảng rẫy. Đa đa là giống rất hiếu chiến nên nó sống theo từng cặp và phân chia lãnh thổ rất cụ thể.

Kẻ này xâm nhập lãnh thổ kẻ kia là sẽ xảy ra cuộc chiến một mất một còn chứ không phải chuyện chơi. Bởi vậy, người đi bẫy đa đa phải có nhiều kinh nghiệm. Mùa sinh sản, đa đa gáy rất dữ dội, nên khi xách lồng chim mồi vào rừng thì phải chú ý lắng nghe coi tiếng chim rừng gáy ở khu vực nào, khoảng cách là bao nhiêu, rồi mới tính chuyện đặt bẫy.

Khi tiến vào lãnh thổ của con đa đa rừng đang gáy phải hết sức nhẹ nhàng và kín đáo. Đầu tiên là dọn khoảng 4-5 luồng, mỗi luồng rộng chừng năm tấc, dài chừng bốn mét là được. Sau đó mới đặt bẫy vào các luồng, chim đa đa mồi treo lên một nhánh cây hay trên một gò mối ở khu vực giữa. Người đánh bẫy phải tìm chỗ núp thật kín, không để bị lộ, đa đa rừng bay mất. Những con đa đa mồi chiến biết cách gáy dụ và khiêu khích chim rừng. Đa đa rừng biết có kẻ lạ vào hang ổ sẽ tức tốc đến gây chiến. Thế là nó chui vào bẫy ngay. Rình bẫy đa đa rất thú vị, nhất là nghe tiếng chim mồi và chim rừng đối đáp, tiếng chạy băng băng của đa đa rừng qua các lùm cỏ, rồi cả khi kẻ hiếu chiến lọt vào trận địa mai phục…

Chuyện xưa mấy mươi năm nay nhắc lại mà cảm giác vẫn còn rần rần và hồi hộp trong người. Ngày xưa, rừng trảng còn tự nhiên lắm, nên chỗ nào cũng có đa đa sinh sống. Tiếng gáy của nó vang động một vùng- nhất là những buổi trưa thanh vắng hay những buổi chiều lặng lẽ buông ánh hoàng hôn. Tiếng chim buồn buồn, hay hay như lôi kéo tâm hồn con người ta về dĩ vãng. Ngày nay, ở xóm tôi cũng còn vài người nuôi đa đa làm cảnh, chứ không còn đi đặt bẫy như xưa. Tiếng đa đa kêu nơi phố thị bao giờ cũng có cảm giác lạc lõng, nhưng nó cũng nhắc lại ít nhiều chuyện cũ trong tôi.

Hiện nay cũng còn ít bà con dân tộc Chăm, Khmer đi đánh chim đa đa, nhưng họ phải qua tận Campuchia để tìm, khó khăn lắm với bẫy được một con, còn quanh các xã trong huyện thì hầu như không còn nữa. Và ở đây cũng xin nói thêm rằng đa đa là loại chim quý hiếm, cần phải được bảo tồn ở các khu vườn quốc gia. Cũng có vài nơi bắt đầu thuần và nuôi đa đa sinh sản. Bảo vệ chim thú và bảo vệ rừng cũng chính là bảo vệ cho chính cuộc sống của con người chúng ta… Mùa này đã là mùa đa đa gáy rộ. Nhớ lắm âm thanh của tiếng chim xưa và càng nhớ hơn hình ảnh của những cánh trảng rừng ven làng quê năm cũ.

5/5 - (1 bình chọn)
Continue Reading

Tin Hot

Nội dụng được bảo vệ bản quyền